NHỊN KHÔ KHOA HỌC – LỢI THẾ KHỦNG DƯỚI GÓC NHÌN KHOA HỌC VÀ Abhidhamma (Vi diệu pháp)
(Tóm lược nội dung chia sẻ đến thầy hiệu phó phụ trách chuyên môn, một số nghiên cứu sinh Ph.D và MA tại ITBMU, nội dung này trước đây cũng đã từng chia sẻ với thầy Pháp Lữ (người ngồi hàng đầu bên phải và ảnh chụp chung với sư Rừng Gọi – Tuệ Đức), sư cô Thông Hoàng (trong ảnh ngồi hàng đầu bên trái) và vài thầy cô hữu duyên từ Plum Village – Làng Mai có duyên về Rừng Gọi thanh lọc. Lần này cập nhật sâu hơn về phần Vi diệu pháp)
1. Lợi ích khoa học đã thấy rõ
Trong vài thập niên gần đây, khoa học hiện đại đã nhận ra lợi ích của nhịn ăn có kiểm soát, đặc biệt sau khám phá giải Nobel Y sinh 2016 về tự thực bào (autophagy) – cơ chế “tự ăn chính mình” của cơ thể.
Khi cơ thể tạm dừng tiêu hóa và hấp thụ dưỡng chất bên ngoài, thì cơ thể sẽ kích hoạt cơ chế chuyển hoá và hấp thụ dưỡng chất bên trong đồng thời thông qua đó các cơ chế chữa lành tự nhiên được kích hoạt mạnh mẽ hơn bao giờ:
- Tự thực bào (autophagy) – dọn dẹp tế bào hư hỏng.
- Giảm viêm và độc tố.
- Tái tạo tế bào.
- Cân bằng hormone và trao đổi chất.
- Thanh lọc hệ tiêu hóa.
- Hỗ trợ chữa lành hiệu quả các bệnh mãn tính như vảy nến, ung thư, tiểu đường v.v.
Nhịn khô khoa học (không ăn, không uống trong thời gian phù hợp) giúp thân chuyển từ ngoại dưỡng sang nội dưỡng, dùng năng lượng cho sửa chữa và tái tạo. Nhưng nhìn sâu theo Abhidhamma, điều quan trọng còn ở tâm và sắc pháp.
2. Phân tích dưới ánh sáng Abhidhamma
Theo Abhidhamma, sắc pháp (vật chất) sinh khởi từ bốn nguyên nhân:
- Nghiệp sinh sắc (kammaja rūpa)
- Tâm sinh sắc (cittaja rūpa)
- Nhiệt sinh sắc (utuja rūpa)
- Thực sinh sắc (āhāraja rūpa) – sắc pháp do dinh dưỡng sinh ra.
Phật học không hiểu “thực” chỉ là thức ăn vật lý. Ngài dạy bốn loại thực (āhāra):
- Đoàn thực (kabalīkārāhāra) – thức ăn vật chất
- Xúc thực (phassa āhāra) – nuôi dưỡng qua tiếp xúc của các giác quan
- Tư niệm thực (mano-sañcetanā āhāra) – nuôi dưỡng bởi ý chí, tư duy, trắc ẩn
- Thức thực (viññāṇa āhāra) – nuôi dưỡng bởi dòng tâm thức
Khi nhịn ăn trong chánh niệm và định, thân không còn chỉ dựa vào đoàn thực. Thay vào đó, xuất hiện hai nguồn nuôi dưỡng vi tế:
- Thiền duyệt thực – niềm an lạc của thiền định
- Pháp hỷ thực – niềm vui của chánh pháp
Hai nguồn này nuôi dưỡng tâm, gián tiếp nâng đỡ thân.
3. Khi nhịn với tâm hoan hỷ
Nhịn khô trong:
- kham nhẫn
- buông thư
- tâm xả
- lòng hoan hỷ
sẽ sinh dòng tâm thiện mạnh. Trong Abhidhamma, đó là:
mahā-kusala somanassa-sahagata ñāṇa-sampayutta asaṅkhārika citta
(Tâm đại thiện đi kèm hỷ, có trí tuệ, tự phát, không cần thúc đẩy hay hỗ trợ.)
Mỗi sát-na tâm như vậy tạo ra thiện lực lớn. Trong dòng tâm, các tâm xung lực (javana cittas) liên tục sinh khởi, đẩy mạnh năng lực thiện. Thiền sâu hơn có thể dẫn đến:
- Tâm hướng môn (averting consciousness)
- Tâm quả (fruition consciousness) của các tầng thánh
Đây là tiến trình tâm rất đạo đức và quan trọng nếu nhịn khô được thực hành đúng cách, khoa học và trí tuệ.
4. So với người dâng hoa cúng Phật hay làm thiện pháp
Một người thành tâm dâng hoa hay làm thiện pháp cũng sinh tâm thiện:
mahā-kusala somanassa-sahagata citta (tâm đại thiện đi kèm niềm hoan hỷ.)
Tuy đẹp, nhưng khi hành giả nhịn khô với chánh niệm, buông thư sâu, tâm xả và trí tuệ, dòng tâm xung lực thiện (javana cittas) có thể sinh khởi liên tục nhiều lần.
Nhờ vậy thiện lực được tích luỹ sâu hơn, phước thiện hay phước đức* (puñña, merit) mạnh hơn nhiều so với một hành động thiện đơn lẻ.
Nếu hành giả tiếp tục phát triển tuệ minh sát (vipassanā) cho đến khi đạo tâm sinh khởi thành tuệ đạo, lúc ấy thiện lực mới trở thành công đức** vô lậu (lokuttara kusala) dẫn đến giải thoát.
-
thiện đơn lẻ → như một giọt nước
-
javana thiện liên tục → như dòng suối
-
đạo tâm (magga) → như dòng thác phá vỡ đập vô minh
5. Tự phẫu thuật chính mình
Nhịn khô đúng pháp là cuộc phẫu thuật nội thân và nội tâm:
- Không dao kéo, không tổn hại, không đau khổ
- Không tốn tiền, không rỉ máu, không chiến tranh
Tinh thần này đúng với Ahimsa – bất bạo động, nghĩa là không làm hại từ tư tưởng đến hành vi.
Khi người hành giả:
- không bạo động với chính mình
- sống tỉnh thức
thì tự nhiên không bạo động với thế giới, giảm sát hại, giảm tiêu thụ, giảm ô nhiễm môi trường.
6. Con đường giải thoát
Nhịn khô không phải hành xác. Đây là cơ hội quán chiếu thân:
- Sinh bởi nghiệp, nhiệt lượng
- Tồn tại nhờ dưỡng chất
- Biến đổi từng sát-na qua danh (tâm, citta) và sắc (thân, rūpa)
Khi thấy rõ điều này, trí tuệ về Niết Bàn (Nirvana) mở ra. Con đường bắt đầu từ:
- một hơi thở tỉnh thức
- một bữa ăn tỉnh thức
- một lần nhịn ăn trong trí tuệ
Giống như Đức Phật sau khi nhận bát cháo của Sujata, Ngài ngồi kiết già dưới cội bồ đề, giữ chánh niệm, buông thư, nhịn ăn 7 ngày (nhịn khô) và thành đạo, tiếp tục hành thiền quán nhân duyên khổ để giúp đời thoát khổ.
Nhịn khô khoa học, nếu thực hành với:
- niềm tin (Tín)
- chánh niệm
- tinh tấn
- kham nhẫn
- trí tuệ
- tâm hoan hỷ
sẽ là thiền tập sâu sắc, thanh lọc thân tâm, nuôi dưỡng lòng từ bi, cơ thể tự cân bằng, tự chữa lành và sống đời bất hại.
Thân nhẹ. Tâm an. Trí sáng.
Thế giới bớt bạo lực và bình an, hoà bình từ chính mỗi người.
Con đường tỉnh thức bắt đầu từ đây.
Sư Rừng Gọi.
P.S. Thầy Pháp Lữ (ảnh kèm)– bác sĩ Tây y, y sĩ Đông y hơn 40 năm, trước khi xuất gia. Thầy xuất gia từ năm 1999 (27 năm), đã hành thiền theo pháp môn của thiền sư Thích Nhất Hạnh (Sư ông Làng Mai). Thầy từng tổ chức nhiều khoá thanh lọc tiết thực và nhịn ăn có uống nước và lần đầu tham gia các chương trình thanh lọc Rừng Gọi nhịn ăn không uống nước (nhịn khô) và có chia sẻ tại Rừng Gọi có live ở YouTube Thanh lọc Rừng Gọi vào ngày 23.04.2024.
*Phước đức (phước báu) là kết quả của việc làm thiện (bố thí, giúp người, thiện pháp) mang lại sự an vui, may mắn trong luân hồi (cõi trời, người). Công đức là kết quả của sự tu tập nội tâm (giữ giới, thiền định, trí tuệ), giúp dứt bỏ tham-sân-si, hướng tới giải thoát, giác ngộ. Công đức thuộc về “vô vi” (không mong cầu), phước đức thường mang tính “hữu vi” (có mong cầu).


